NHÀ ĐANG CHO THUÊ CÓ ĐƯỢC THẾ CHẤP KHÔNG ?
1. 𝑻𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒉𝒂̂́𝒑 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒒𝒖𝒂𝒏 đ𝒆̂́𝒏 𝒕𝒂̀𝒊 𝒔𝒂̉𝒏 𝒄𝒉𝒐 𝒕𝒉𝒖𝒆̂, 𝒄𝒉𝒐 𝒎𝒖̛𝒐̛̣𝒏
Điều 34 Nghị định Số: 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật dân sự bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có quy định về việc thế chấp liên quan đến tài sản cho thuê, cho mượn
– Trường hợp tài sản đang cho thuê, cho mượn được dùng để thế chấp thì bên thế chấp phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết.
– Việc tài sản thế chấp đang được cho thuê, cho mượn bị xử lý theo trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự không làm chấm dứt hợp đồng thuê, hợp đồng mượn; bên thuê, bên mượn được tiếp tục thuê, mượn cho đến khi hết thời hạn theo hợp đồng.
– Trường hợp biện pháp thế chấp đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba mà bên thế chấp dùng tài sản thế chấp để cho thuê, cho mượn nhưng không thông báo cho bên nhận thế chấp biết thì hợp đồng thuê, hợp đồng mượn chấm dứt tại thời điểm xử lý tài sản thế chấp. Quyền, nghĩa vụ giữa bên thế chấp và bên thuê, bên mượn được giải quyết theo thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan.
2. 𝑻𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒉𝒂̂́𝒑 𝒏𝒉𝒂̀ 𝒐̛̉ đ𝒂𝒏𝒈 𝒄𝒉𝒐 𝒕𝒉𝒖𝒆̂
Khoản 1 Điều 146 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014, như được bổ sung, sửa đổi năm 2019 và năm 2020 (sau đây gọi tắt là “Luật Nhà ở”) quy định: “Chủ sở hữu nhà ở có quyền thế chấp nhà ở đang cho thuê nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê nhà ở biết trước về việc thế chấp. Bên thuê nhà ở được tiếp tục thuê đến hết hạn hợp đồng thuê nhà ở”.
Như vậy, chủ sở hữu nhà ở đang cho thuê có quyền thế chấp nhà ở đó, nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết về việc thế chấp này.
Khoản 2 Điều 146 Luật Nhà ở cũng quy định: “Trường hợp nhà ở đang thuê bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp nhà ở thì bên thuê nhà ở được tiếp tục thuê đến hết hạn hợp đồng, trừ trường hợp bên thuê nhà ở vi phạm các quy định tại khoản 2 Điều 132 của Luật này hoặc các bên có thỏa thuận khác”.
Như vậy, trong trường hợp có căn cứ xử lý thế chấp, bên nhận thế chấp có quyền xử lý tài sản thế chấp. Khi đó, bên nhận thế chấp hoặc bên mua tài sản đó sẽ trở thành bên cho thuê (chủ sở hữu) mới, còn bên thuê vẫn được tiếp tục thuê đến khi hết thời hạn của hợp đồng thuê đã xác lập ban đầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc bên thuê có hành vi vi phạm là căn cứ hợp pháp để bên thế chấp (bên cho thuê ban đầu) chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở.
Tóm lại, chủ sở hữu nhà ở đang cho thuê vẫn có quyền đem căn nhà đó đi thế chấp tại Ngân hàng. Tuy nhiên, chủ sở hữu phải có trách nhiệm thông báo cho bên thuê nhà biết trước, cho bên nhận thế chấp biết về tình trạng nhà đang cho thuê.
________________________
Công ty Luật Phát An Sài Gòn – Đà Nẵng
“𝐀𝐧 𝐓𝐚̂𝐦 𝐏𝐡𝐚́𝐩 𝐋𝐲́, 𝐏𝐡𝐚́𝐭 𝐓𝐫𝐢𝐞̂̉𝐧 𝐕𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐁𝐞̂̀𝐧”
