07 TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Loại trừ trách nhiệm hình sự được hiểu là trường hợp người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều này có nghĩa là hành vi của họ không bị xem là tội phạm và không bị xem là có án tích.
Dưới đây là 07 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự:
𝟏. 𝐒𝐮̛̣ 𝐤𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐛𝐚̂́𝐭 𝐧𝐠𝐨̛̀
Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
(Điều 20 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)
𝟐. 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐭𝐫𝐚̣𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐜𝐨́ 𝐧𝐚̆𝐧𝐠 𝐥𝐮̛̣𝐜 𝐭𝐫𝐚́𝐜𝐡 𝐧𝐡𝐢𝐞̣̂𝐦 𝐡𝐢̀𝐧𝐡 𝐬𝐮̛̣
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
(Điều 21 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)
𝟑. 𝐏𝐡𝐨̀𝐧𝐠 𝐯𝐞̣̂ 𝐜𝐡𝐢́𝐧𝐡 đ𝐚́𝐧𝐠
– Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
– Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.
(Điều 22 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)
𝟒. 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐭𝐡𝐞̂́ 𝐜𝐚̂́𝐩 𝐭𝐡𝐢𝐞̂́𝐭
– Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
– Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
(Điều 23 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)
𝟓. 𝐆𝐚̂𝐲 𝐭𝐡𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐡𝐚̣𝐢 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐢 𝐛𝐚̆́𝐭 𝐠𝐢𝐮̛̃ 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐩𝐡𝐚̣𝐦 𝐭𝐨̣̂𝐢
– Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.
– Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.
(Điều 24 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)
𝟔. 𝐑𝐮̉𝐢 𝐫𝐨 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐡𝐢𝐞̂𝐧 𝐜𝐮̛́𝐮, 𝐭𝐡𝐮̛̉ 𝐧𝐠𝐡𝐢𝐞̣̂𝐦, 𝐚́𝐩 𝐝𝐮̣𝐧𝐠 𝐭𝐢𝐞̂́𝐧 𝐛𝐨̣̂ 𝐤𝐡𝐨𝐚 𝐡𝐨̣𝐜, 𝐤𝐲̃ 𝐭𝐡𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐯𝐚̀ 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐡𝐞̣̂
– Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.
– Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
(Điều 25 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)
𝟕. 𝐓𝐡𝐢 𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐦𝐞̣̂𝐧𝐡 𝐥𝐞̣̂𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐜𝐡𝐢̉ 𝐡𝐮𝐲 𝐡𝐨𝐚̣̆𝐜 𝐜𝐮̉𝐚 𝐜𝐚̂́𝐩 𝐭𝐫𝐞̂𝐧
– Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.
Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật hình sự.
(Điều 26 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)
________________________
Công ty Luật Phát An Sài Gòn – Đà Nẵng
“𝐀𝐧 𝐓𝐚̂𝐦 𝐏𝐡𝐚́𝐩 𝐋𝐲́, 𝐏𝐡𝐚́𝐭 𝐓𝐫𝐢𝐞̂̉𝐧 𝐕𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐁𝐞̂̀𝐧”
