CÁCH NÀO ĐỂ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI CÔNG TY NỢ LƯƠNG?
Trong quan hệ lao động, người lao động luôn là bên yếu thế hơn so với người sử dụng lao động, thực tế tranh chấp phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động xảy ra nhiều trong đó phổ biển là tranh chấp phát sinh do người sử dụng lao động nợ lương người lao động
Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị nợ lương, theo quy định pháp luật lao động hiện hành, người lao động có thể sử dụng một trong các biện pháp pháp lý sau đây:
𝐁𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝟏: Thực hiện việc khiếu nại trực tiếp đến người sử dụng lao động để yêu cầu giải quyết tiền lương chưa thanh toán
Người lao động có quyền khiếu nại đến người sử dụng lao động trong vòng 180 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán tiền lương theo hợp đồng lao động mà người sử dụng không thực hiện chi trả cho người lao động, căn cứ Điều 7; khoản 1, Điều 15 Nghị định 24/2018/NĐ-CP quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, hoạt động đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động (“Nghị định 24”).
Trường hợp người sử dụng lao động không giải quyết hoặc người lao động không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại. Người lao động có quyền tiến hành khiếu nại lần hai đến Chánh Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội nơi người sử dụng lao động có trụ sở, căn cứ khoản 2 Điều 15 Nghị định 24.
Thời hạn thụ lý là 07 ngày làm việc kể từ ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền.
Nếu khiếu nại lần hai không được giải quyết đúng thời hạn hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì người lao động có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền theo thủ tục tố tụng hành chính, căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 10, Nghị định 24.
𝐁𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝟐: Hòa giải thông qua thủ tục hòa giải của Hoà giải viên lao động
Người lao động có quyền yêu cầu hoà giải viên lao động tổ chức hoà giải cho mình và người sử dụng lao động đối với yêu cầu thanh toán tiền lương trong vòng 06 tháng kể từ ngày phát hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm, căn cứ khoản 1 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019.
Thời hạn giải quyết là 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp từ người lao động, căn cứ Điều 188, Bộ luật Lao động năm 2019.
Trường hợp hòa giải không thành hoặc thành nhưng người sử dụng lao động không thực hiện hoặc hết thời hạn giải quyết thì người lao động có thể lựa chọn yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
𝐁𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝟑: Giải quyết bởi Hội đồng trọng tài lao động
Theo Điều 189, Bộ luật Lao động năm 2019, việc giải quyết bởi Hội đồng trọng tài lao động được tiến hành sau khi đã trải qua bước hòa giải thông qua Hòa giải viên lao động. Đồng thời chỉ giải quyết tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài lao động khi cả hai bên đồng ý lựa chọn.
Thời hiệu yêu cầu là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm. Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết. Thời hạn giải quyết là 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập.
Quyết định của Ban trọng tài lao động về việc giải quyết tranh chấp sẽ được gửi cho các bên. Trường hợp một bên không thi hành quyết định này thì bên còn lại có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
𝐁𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝟒: Khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền theo thủ tục tố tụng dân sự
Theo quy định tại khoản 1, Điều 188, Bộ luật Lao động năm 2019, tranh chấp về tiền lương giữa người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải trải qua thủ tục hòa giải của Hòa giải viên Lao động (thủ tục tiền tố tụng), sau đó mới được khởi kiện tại Tòa án.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp là 01 năm kể từ ngày phát hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm, căn cứ khoản 3, Điều 190, Bộ luật Lao động năm 2019.
Người lao động gửi đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tiền lương đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người sử dụng lao động có trụ sở để được giải quyết theo quy định của pháp luật.
________________________
LUẬT PHÁT AN SÀI GÒN – ĐÀ NẴNG
“𝐀𝐧 𝐓𝐚̂𝐦 𝐏𝐡𝐚́𝐩 𝐋𝐲́, 𝐏𝐡𝐚́𝐭 𝐓𝐫𝐢𝐞̂̉𝐧 𝐕𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐁𝐞̂̀𝐧”
